Họ Nguyễn Hoàng
阮黃Còn được ghi là: Nguyen Hoang
Tổng quan
Nguyễn Hoàng (阮黃 / 阮皇) là chi của họ Nguyễn lấy tên đệm "Hoàng" (黃 = vàng / 皇 = vua). Có hai nguồn gốc khác nhau: 1. Liên hệ với Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1525–1613) — một số chi tự xưng là hậu duệ trực hệ trước khi đặt chữ "Phúc" vào năm 1563. Hiện nay chi này ít vì hậu duệ trực hệ chuyển sang dùng "Nguyễn Phúc". 2. Chi độc lập — nhiều dòng Nguyễn Hoàng ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ không có liên hệ huyết thống với chúa Nguyễn, dùng đệm "Hoàng" với nghĩa "vàng / quý" thông thường.
Nguồn gốc và lịch sử
Nguyễn Hoàng (1525–1613) — Đoan Quốc công, là con thứ của Nguyễn Kim (công thần triều Lê Trung Hưng). Năm 1558, ông được vào trấn thủ Thuận Hóa, sau đó mở rộng đến Quảng Nam. Đây là khởi đầu của thế lực chúa Nguyễn ở Đàng Trong và mở đầu công cuộc Nam tiến lớn của người Việt. Năm 1563, ông đặt "Phúc" làm chữ đệm cho hậu duệ trực hệ — vì vậy con cháu ông từ đó dùng "Nguyễn Phúc". Tuy nhiên, một số chi xa của dòng họ Nguyễn Kim (anh em, anh ruột Nguyễn Hoàng) vẫn giữ đệm "Hoàng" hoặc dùng các đệm khác. Các chi Nguyễn Hoàng độc lập ở Bắc Bộ chủ yếu xuất hiện sau thế kỷ XVII, khi việc đặt tên đệm tự do hơn. Các chi này không có liên hệ trực tiếp với chúa Nguyễn.
Địa bàn và nguồn tư liệu
Trung Bộ: Một số ít chi tự xưng hậu duệ Nguyễn Kim, tập trung ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Bắc Bộ: Phổ biến hơn — Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hải Dương.
Nhân vật cùng họ trong sử liệu
Nguyễn Hoàng (1525–1613) — Chúa Tiên, tổ chúa Nguyễn, người mở mang Đàng Trong. (Tổ tinh thần của chi) Nguyễn Hoàng Đức — Vọng Các Công thần, danh tướng Nguyễn Ánh.
Nguồn tham khảo
Người cùng họ không mặc nhiên cùng chi hoặc chung thủy tổ. Số liệu và nhận định là đầu mối tham khảo; quan hệ huyết thống cần được kiểm bằng gia phả, hộ tịch, văn bia hoặc tư liệu gốc.
/dong-ho/ho-nguyen-hoang-viet-nam