Họ Lục
陸Còn được ghi là: Luc
Tổng quan
Họ Lục (陸) là dòng họ phổ biến thứ 48 ở Việt Nam (0.12% dân số). Gốc Hán di cư — họ 陸 ở Trung Quốc nổi tiếng với Lục Du (1125–1210, đại thi hào nhà Tống), Lục Cửu Uyên (1139–1193, triết gia Tâm học). Ở Việt Nam có hai chi chính: chi Kinh gốc Hán di cư và chi Tày-Nùng phổ biến ở vùng Đông Bắc (Lạng Sơn, Cao Bằng). Họ Lục là một trong những họ phổ biến nhất của cộng đồng Tày-Nùng Việt Bắc.
Nguồn gốc và lịch sử
Gốc Hán: Họ 陸 gốc nước Lục thời Xuân Thu (山東 Sơn Đông), hậu duệ Đế Chuyên Húc. Dòng họ phát triển rực rỡ dưới triều Tống với Lục Du (đại thi hào, hơn 9.000 bài thơ), Lục Cửu Uyên (triết gia Tâm học — "Vũ trụ chính là tâm ta"). Việt Nam (chi Kinh): Có từ thời Bắc thuộc, không nổi bật. Chi Tày-Nùng: Phát triển ở vùng biên giới Việt – Trung, có liên hệ với họ Lục người Choang (壮族) ở Quảng Tây. Người Tày-Nùng mang họ Lục tham gia tích cực trong phong trào Việt Minh và kháng chiến chống Pháp vùng Việt Bắc. Lục Sĩ Thành (đời Lê) — đại thần.
Địa bàn và nguồn tư liệu
Đông Bắc: Lạng Sơn (Bình Gia, Văn Quan, Tràng Định — chi Tày-Nùng đậm đặc), Cao Bằng (Trùng Khánh), Quảng Ninh (Bình Liêu, Tiên Yên). Đồng bằng sông Hồng: Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương. Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa, Nghệ An.
Nhân vật cùng họ trong sử liệu
Lục Sĩ Thành (đời Lê) — đại thần. Lục Văn Đặng — đại biểu Quốc hội, đại diện cộng đồng dân tộc Tày vùng Đông Bắc. Nhiều cán bộ người Tày-Nùng họ Lục tham gia chiến dịch Biên giới 1950 và xây dựng An toàn khu Việt Bắc.
Nguồn tham khảo
Người cùng họ không mặc nhiên cùng chi hoặc chung thủy tổ. Số liệu và nhận định là đầu mối tham khảo; quan hệ huyết thống cần được kiểm bằng gia phả, hộ tịch, văn bia hoặc tư liệu gốc.
/dong-ho/ho-luc-viet-nam