Họ Lê Đình
黎廷Còn được ghi là: Le Dinh
Tổng quan
Lê Đình (黎廷) là chi của họ Lê với tên đệm "Đình" (廷 = triều đình). Cần phân biệt hai chữ "Đình" thường gặp: 廷 (triều đình, nơi vua quan hội họp) và 亭 (đình làng, nơi sinh hoạt cộng đồng). Trong hầu hết gia phả họ Lê, "Đình" là chữ 廷, gắn nhiều với chi văn quan/đại thần — phản ánh ước nguyện hậu duệ vào triều phục vụ. Phổ biến ở Bắc Trung Bộ, đặc biệt Thanh – Nghệ – Tĩnh.
Nguồn gốc và lịch sử
Đệm "Đình" được dùng từ thời Hậu Lê trong các gia tộc trọng nho học, có người làm quan triều đình. Vùng Thanh – Nghệ – Tĩnh có nhiều chi Lê Đình lớn, có truyền thống học hành đỗ đạt qua các đời. Vùng đất Thanh – Nghệ – Tĩnh vốn là quê hương của nhiều triều đại và nhân vật lịch sử lớn. Các chi Lê Đình ở đây thường có nhà thờ họ khang trang, gia phả ghi chép rõ ràng, và truyền thống giỗ tổ hàng năm quy mô.
Địa bàn và nguồn tư liệu
Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa, Nghệ An (đặc biệt vùng Hưng Nguyên, Nam Đàn — quê Hồ Chủ tịch), Hà Tĩnh. Đồng bằng sông Hồng: Hải Dương, Bắc Ninh.
Nhân vật cùng họ trong sử liệu
Lê Đình Kiên (đời Trần) — Tả tướng quốc đời Trần, có công trong việc bảo vệ biên cương. Lê Đình Diên (1827–1885) — Tế tửu Quốc Tử Giám triều Nguyễn, nhà giáo dục lớn, góp phần đào tạo nhiều thế hệ quan lại. Lê Đình Chinh (1960–1978) — liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, hy sinh tại biên giới Lạng Sơn năm 1978, là một trong những chiến sĩ đầu tiên ngã xuống bảo vệ biên giới phía Bắc. Lê Đình Cẩn (1932–) — GS Toán học, có đóng góp trong nghiên cứu giáo dục. Lê Đình Thám (1897–1969) — bác sĩ, cư sĩ Phật giáo, sáng lập phong trào chấn hưng Phật giáo miền Trung.
Nguồn tham khảo
Người cùng họ không mặc nhiên cùng chi hoặc chung thủy tổ. Số liệu và nhận định là đầu mối tham khảo; quan hệ huyết thống cần được kiểm bằng gia phả, hộ tịch, văn bia hoặc tư liệu gốc.
/dong-ho/ho-le-dinh-viet-nam